Thứ Năm, 30 tháng 9, 2010

Lam Kinh

Chim đã bay về quây quần thành bầy trên thế núi xoắn ốc              
Chữ Vương trên đất Lam Kinh hóa thành chiếc nôi vàng
Hội thề Lũng Nhai vọng tiếng mười tám vị anh hào
                                                            sáu trăm năm trước (*)
Thanh gươm thần đòi lại giang sơn
Lá rau tạc nên hình quốc ấn
Cô gái giả hồ li đánh lạc hướng thù
Chiến bào Lê Lai quên mình cháy hồi sinh trong lửa
Sự tích hóa thân vào huyết mạch sử xanh

***

Chảy trong cỏ phế tích một vương triều lừng lẫy
Chữ Vì Dân trong tim Ức Trai còn đau đáu Vĩnh Lăng bia
Con mắt nhân tình nhìn ra sông Chu, rừng Phú Lâm, núi Chúa
Qua bao khói sương, hẹn gặp Tinh Loan Kiều

                        ***

Cỏ rợn ngợp một màu xanh Lam Kinh
Xin về cùng em múa Xéc bùa, múa đèn Đông Anh, hát trò Xuân Phả
Cùng em nghiêng một hội thề thuỷ chung với cỏ
Không có kiệu vàng xin rước em bằng ánh mắt
Trên lưng đá rùa neo những trầm tích vỏ sò
sống động nghìn năm


--------------
(*)Hội thề Lũng Nhai: Một đêm năm Bính Thân (1416) 18 người con của đất nước hừng hực ý chí đứng trước đống lửa ngùn ngụt cháy, thề đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi.

Hàng Bè phố cổ

Hàng Bè phố cổ
Người đi xích lô, đi xe đạp, đi xe máy, đi tắc xi đi...
Trôi từ thứ hai đến chủ nhật.
Âm em
Tây ba lô trôi
Những gánh rau quả trôi
Những gánh bánh bao trôi
Những chiếc rỗ tre bất động
Con cá vẫy đuôi trong hẽm Gia Ngư
Quẫy mùa yêu trống trải

Hàng Bè ngày mưa
Chỉ chiếc ô đi lẻ loi
Kéo theo bàn tay ướt

Hồ Tây

Mùa này Hồ Tây gió giật ven bờ 13m/giây
Ngoài kia là 18m/giây làm mềm đuôi con cá trắm lớn
Em ngồi sát vào tôi lùa tóc trong gió bay qua tôi
Bầy sâm cầm trở về mang theo cái rét
Trời trở lạnh rồi, lá sen đã tàn từ đêm qua trong câu thơ giọt lệ
Những ngôi nhà vút lên thinh không một thách thức mới
Chim thưa làm tổ, cà cuống đi đâu

Nghe trong gió có mùi hoa đào Nhật Tân xưa
Tiếng bước chân voi bên vườn Quảng Bá
Tiếng giặt lụa khua thầm cung nữ Xóm Cung bên Phủ Tây Hồ
Cả tiếng rao kim chỉ bị bùa trong xóm Cột Vôi
Tiếng tằm ăn trong sợi dây gai ở phố Nghi Tàm
Và con tép nhảy vô hồi dưới chân đê Yên Phụ

Nâng chén rượu sen làng Thụy bên dốc Tam Đa
Mồng hai tết nhớ đi bắt chạch trong chum và chèo thuyền cạn
Lễ hội Hồ Khẩu chờ nhau nơi đền Vệ Quốc
Em cùng ta mơ giấc Động Đình xưa

Con trâu vàng Tiên Du chốn hồ sâu
chiều nay lang thang trong phố
Đưa cổ tích dạo chơi trên cái chuông Lục Đầu
Cây bồ đề trong chùa Trấn Quốc
Gõ hạt lần theo những bóng hoa

Câu thơ Nguyễn Du “hoa tặng người mình sợ”
Hóa gió bay qua mặt Tây Hồ
Thôi em mùa đông đang đi qua bên thềm Ngũ Xã
Chốc nữa ta đi ăn ốc nấu giả ba ba...

Văn Miếu

Ngôi đền sống động từ những tấm bia biết im lặng
chỉ để những cái tên lên tiếng
Người con Việt đã đi qua đây
như đi qua một cánh rừng minh triết biểu tượng

Những tấm bia như những chiếc gương soi mà ta chỉ thấy mình trong đó lòng kính trọng hiện lên
Những gương mặt hiền nhân ẩn trong đá
đang quan sát ta bằng cặp mắt nhân hậu biết bao
Những tri thức thông thái của người
giọt xuống ta như giọt nước ăn mòn cả đá
thấm vào ta qua những cửa ô Khuê Văn Các
rọi vào ta sáng và chiều và sâu những khoắc khuya


Gục đầu lên bia đá
nghe máu mình chảy suốt ngìn năm

Ngõ Huê

           Có lẽ một trong những ấn tượng bình yên sâu sắc nhất là cái màu xanh im vắng của những ngõ nhỏ có rất nhiều ở Huế. Những ngõ nhỏ sâu hun hút như nỗi nhớ, như để đủ thời gian cho con người chiêm nghiệm cùng cây trái quanh đây, như để giăng mắc những cảm thức mơ hồ chằng chịt qua những nẻo đường đời, như để ai đó còn ngóng chờ ai mỗi bước chân đi về một ngày nào xa xưa, như để còn ngân nga trong câu hát của Trịnh Công Sơn: “Thương ai về ngõ tối...”vọng vang âm thầm trong lối nhỏ...
            Nếu nói về những ngõ xanh im vắng, có lẽ Huế có nhiều nhất những hun hút xanh chan hòa đem lại cho con người cảm giác thư thái ấy. Sống ở Huế thật lâu, tôi mơ hồ những ngõ nhỏ xứ Huế như một sợi dây nối tâm hồn Huế ra với cao rộng cuộc đời. Sợi dây ấy đan bằng lá cây và sương khói, bện vào đó những âm vang bình dị từ những khu vườn và cả ánh sáng khiêm nhường của những thời khắc cảnh sắc không gian Huế, tất cả được đan bằng bàn tay của một tâm thức đầy mẫn cảm vừa lặng lẽ rêu phong vừa sôi động như ngọn gió qua rừng tre trúc.
            Ngõ Huế, gần như là một tiếng gọi, thật gần mà lại mơ hồ xa vắng. Ngõ Huế, đó chính là cái cửa ngõ ngay trước ngôi nhà ấm áp khói lam chiều, là những ngõ quê thơm mùi đất, những ngõ vườn xao động hoa lá điệu đàng, những ngõ phố sống động đêm khuya, và cả những ngõ chùa nắng vàng như màu thiền xứ sở...
***
            Người Huế hay nói “Trong nhà ngoài ngõ”, thì cũng đã là xem cửa ngõ là lối dẫn vào nhà, như  lời ngõ của một cuốn sách, lời thưa của một câu chuyện. Tùy theo quan niệm mà có những cách nhìn khác nhau về cửa ngõ. Ví như quan niệm “Thần quyền” cho rằng cửa ngõ nhà ai cũng có thần môn, bao gồm các chư vị thần ảnh hưởng tới đất đai nhà cửa như: Thành Hoàng bổn thổ, Táo phủ thần quân, Thân môn Hộ úy...Bên cạnh cái yếm thế cho rằng thần môn có thể trừ tà ma, quan niệm này có cái hay là khuyên gia chủ lấy tâm thành ăn ở với đời thì thần “bất chấp bất trách”.  Một chiều nắng nhạt bên sông Bồ, ông Hoài, một thợ mộc ngoài tuổi 90, ký ức rỗng dần chuyện đời ngồi kể về một cây thước quý ngày xưa. Ông nói để có một độ rộng hợp lý cho cánh cửa ngõ, người Huế xưa thường dùng thước Xích bộ. Tương truyền có nhà sư khi hành cước qua miền Thuận Hóa thời chúa Nguyễn, thấy người dân loay hoay dựng nhà cửa nơi vùng đất mới bèn đem thước Xích bộ ra truyền dạy. Thước Xích bộ cho rằng, con người khi mở cửa dựng nhà cần có kích tấc. Kích tấc ấy không ở đâu xa mà chính ở ngay mỗi con người. Một thước Xích bộ dài bằng hai bàn chân người nối nhau, sao cho ngón bàn chân này tiếp gót bàn chân kia cho vừa khít. Chủ nhà nào thì thước ấy, không phải ai cũng như ai. Thường thì một thước Xích bộ cũng dài bằng đầu vai này qua đầu vai kia của chủ nhà. Ý của thước Xích bộ ngoài cái tự chủ của mỗi ngôi nhà, còn dạy con người biết lý nghĩa, trên thuận dưới hòa, hai vai gánh vác, thuận chân bước ra với đời mà làm ăn cho kịp với người. Quy tắc chung của Xích bộ là “chớ để hụt ba, chớ qua mười bước”, nghĩa là tối thiểu là sáu bàn chân, tối đa không tới hai mươi bàn chân, thường thì lấy mười tám bàn chân làm chuẩn. Chớ để “hụt ba” là đừng để mất cái thế Thiên-Địa-Nhân, đó cũng là độ rộng cần thiết để có thể xoay trở đòn gánh khi đi ra, đi vô cửa ngõ. Chớ qua mười bước vì “nhân vô thập toàn”, người thường không dám sánh với bậc thánh hiền. Nay loại thước này gần như mất dạng, chỉ còn trong trí nhớ những người lớn tuổi như ông Hoài!
Xem ra, cửa ngõ cũng cho thấy cái thâm trầm của đất Cố đô. Người Huế thường cho rằng trong ngôi nhà ba gian hai chái của mình, gian giữa bao giờ cũng thờ thần chủ, gian bên phải phía trên thờ hoàng thổ (đất đai, nương vườn), gian bên trái phía dưới là nơi dành cho Táo quân, đàn bà con gái lo việc bếp núc. Vì vậy mở cửa ngõ vào nhà phải tránh mở thẳng hướng vào gian giữa, nếu vì cuộc đất buộc mở ngõ thẳng thì phải có bình phong chắn lại, sau đó làm lối rẽ lên phía gian trên, tối kỵ mở xuống gian dưới nơi bếp núc. Cũng bởi người Huế cho rằng cửa mở phía trên là trọng khách, cửa dưới bất quá là để cho gia súc (trâu bò) vào ra. Còn mở thẳng gian giữa theo kiểu “đường ngay ngõ thẳng” chỉ có vua chúa, bậc danh gia vọng tộc mới làm...Đa số cổng của hàng trăm phủ đệ ở Huế đều như vậy, mở cổng ngõ thẳng vào cửa chính có bình phong che chắn. Ngoài ngõ có chiếc cổng mái che để khách lỡ đường trú mưa, trú nắng...
Cái cách mở cửa ngõ của Huế nhắc nhủ rằng phàm làm người thì ĐI RA phải ăn ở có phải có trái, có trước có sau, có âm có dương, bước đi ra làm ăn với đời, công thành danh toại thì đừng quên chòm xóm nơi cái cuộc đất đã cho ta cái cửa cái nhà; đừng học thiên hạ cái câu “gần nhà xa cửa ngõ” mà kín cổng cao tường cho riêng mình, quên cái thưở “gần ngõ xó cươi” lúc mình còn được chòm xóm bảo bọc. Cũng vậy, ĐI VÔ thì phải nhớ câu “Chồng ngõ, vợ cươi”, đừng để cho “chồng đàng vợ sá”, lại dặn nhau “rộng cươi mà chật ngõ, mấy họ tới nhà; rộng ngõ chật cươi, không mời cũng có khách”...
***
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau, nhớ về quê mạ...”. Xưa, con gái Huế đi lấy chồng thường nương nhờ ngõ sau chốn quê cho vơi đi cái tủi phận làm dâu, nước mắt rơi thầm với cây cau, bụi chuối, rơi xuống đất đai ẩm mục. Cái ngõ quê từ đó hun hút vui buồn. Ở Huế, trong làng có phe (giáp), trong phe có xóm, trong xóm có ngõ. Thường ngõ xóm trồng tre trúc, có những hàng cau xanh mướt, ngõ nhà trồng chè tàu, dâm bụt. Màu xanh này nối với màu xanh kia thành làng xanh tít tắp. Đầu ngõ nhà nối xóm hay ngõ xóm nối đường làng bao giờ cũng là một ngả ba đủ rộng để con nít trong xóm tụ tập chơi đùa, là nơi người lớn gặp nhau trao nhau miếng trầu, câu chuyện...Những ngõ xóm hai bên đầy tre trúc nên mỗi ngõ là một con đường mang đặc trưng riêng, dẫn đến một thế giới riêng của những ngôi nhà trong xóm.
Nổi tiếng nhất Huế có lẽ là những ngõ xóm của làng xưa Phước Tích. Dọc theo đường làng ven sông, các ngõ xóm đón khách bằng những hàng chè tàu được trồng rất kỹ lưỡng, cứ xanh mướt hai bên lối đi vào xóm, vào nhà, làm cho ranh giới giữa vườn nhà này, nhà khác trở nên xoá nhòa, tạo một không gian đầm ấm theo đúng cái nghĩa chòm xóm tắt đèn tối lửa có nhau, không có cảm giác gay gắt như tường rào bằng bê tông đây đó. Những ngõ xóm dẫn vào không gian của tri thức hoà quyện với môi trường hoa trái, yên tĩnh và thanh sạch, làm cho những chủ nhân trở nên thanh nhã kỳ lạ. Cộng đồng dân cư trong các ngõ xóm ấy còn gìn giữ nếp gia phong, luôn ôn hoà, cởi mở với người ngoài. Trong mắt tôi, chủ nhân của những ngõ xanh này đã tạo được cho mình một phong cách sống cực kỳ đặc biệt, đó là biết ứng xử một cách đầy nhân văn trước cây cỏ và và con người. Gần như một cái cây trong ngõ xóm đều gắn liền với kỷ niệm bao nhiêu năm đời người, nên họ không hề chặt đi, và ngay cả những bà lão cũng không nề hà khi cầm cây kéo cắt tỉa cho hàng chè tàu thẳng thớm trong những ngày con cháu đi xa...
Những ngõ xóm quê chứa đựng trong mình biết bao câu chuyện. Tiếc là những năm kéo dây điện về làng, quy hoạch bừa bãi nên nhiều làng tre trúc, cây vườn bị đốn phăng. Nhiều ngõ xóm trơ trụi không một bóng cây, chơ vơ con đường bê tông vô duyên trong mưa nắng. Những thế giới riêng rất mực làng quê cũng theo đó biến mất, biết tìm đâu bây giờ?
Ở Huế, cái khác nhau giữa ngõ quê và ngõ phố không nhiều, bởi ngõ nào cũng xanh ngắt bóng cây, mang vẻ yên bình, cũng từ trong sương sớm ngõ nhỏ sương đọng đầy trên lá cây mở lối ra phố phường. Thành Nội Huế, qua bao năm vẫn còn đó những ngõ chè tàu vuông vức, thẳng tắp như một tấc lòng thành, điểm xuyến những dây tơ hồng vàng gợi nhắc thời thơ ấu chơi trò cô dâu chú rễ. Mỗi ngõ nhỏ ấy, mang một tâm sự riêng tư rất Huế. Ở đó có ngõ nhà ai thoảng hương  cây hồng bạch, sân nhà ai mướt xanh nhành thiên tuế, hoa bưởi nhà ai rụng đây hiên tây với tiếng chim sâu chuyền cành hay tiếng chim chúp mào kêu buồng chuối tiêu chín lựng, và bất ngờ hơn, góc nhà ai cuối ngõ có đoá quỳnh nở ngát hương trong đêm sâu thẳm. Ở đó, có tà áo ai tha thướt đi về, dè dặt đi về “có lối nhỏ vương cây xấu hổ, em sợ nó khép cánh”;  có ai đưa ai về mỗi ngày, mỗi khuya; có ai với ai đứng lại bên bờ dậu tần ngần mà tay thẹn thùng bứt từng chiếc lá...Huế có những ngõ xóm ven sông, hun hút dẫn ta đi vào lối hẹp rồi bỗng dưng vỡ oà ra một mảng sông Hương xanh ngắt. Cũng có những ngõ nhà dẫn ta đến một không gian tri thức tuyệt vời như ngõ nhà ông Hồ Tấn Phan, đi hết con đường đầy tre trúc, bất ngờ gặp một thế giới cổ xưa của mười ngàn cổ vật vớt lên từ đáy sông Hương nằm rải khắp trong vườn, kể lại cho ta muôn ngàn câu chuyện cổ...
Kim Long hoa trái, những ngõ nhỏ thường dẫn ra con đường phía sông Hương, khiến nhớ nao lòng câu thơ của Thiệp Đáng: “Những ngõ phố gió thổi và tôi hằng rung lên những tần số miên man đón em. Những ngõ phố hạnh phúc. Những ngõ phố đau buồn...”. Phú Mộng là xóm đẹp nhất với những ngõ xanh dẫn đến những ngôi nhà vườn đậm đà bản sắc Huế xưa. Và vườn An Hiên danh tiếng cũng có một ngõ vào hết sức đặc trưng bởi hai hàng bạch mai nở trắng mỗi độ xuân về. Bây giờ nhiều khi lên đứng dưới gốc mai trắng xoá, tôi thấy mình như ngọn gió cô độc, rung cây mãi mà vẫn trắng xoá cô đơn. Năm nào đó, hình như tôi đã trồng ở đây một cây ưu tình, cây đã ra hoa lẫn vào màu xanh ngõ vắng, và đã dẫn tôi đến một miền trắng xoá như một giấc mơ đổ vỡ bên trời.
Huế còn có những ngõ chùa vắng lặng, ngoài những ngõ chè tàu truyền thống, còn có nhiều ngõ đặc trưng khác như ngõ vào Huyền Không đầy tre trúc, ngõ vào Tịnh Thất Hoàng Mai là đôi hàng mai cổ thụ...Tiếng chuông, tiếng mõ lúc ban trưa âm ba dẫn ta đến cõi màu thiền vàng tịnh độ. Âm thanh ấy lúc hoàng hôn tím Huế, lại như nhuốm cả màu nhớ lên trên mấy nẻo đi về...
Đêm sâu và khuya, những ngõ Huế im lìm, và như để cho khách giang hồ còn một chỗ dừng chân cho trọn vẹn cuộc tang bồng, Huế có một Ngõ Vắng Xôn Xao nằm ngay trước chợ Đông Ba, kiệt Ngân Hàng dẫn ra bờ hồ Trần Hưng Đạo. Ngõ thức suốt đêm cùng sương khói Huế. Nhiều tao nhân mặc khách đã dừng bước chân khuya tại quán này ăn một bát cháo sương, để uống thêm chén rượu ân tình hàng bao năm qua, để còn nghêu ngao “đêm thấy ta là thác đổ”, để còn “ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ chân giang hồ”. Mấy năm lại đây, bước chân vô định của những con người “vô trú”, còn có một địa chỉ khác, ngõ Trần Huy Liệu, ngay sát chân bờ hồ, nhìn sang bên kia Hộ Thành Hào là dãy tường Kinh Thành Huế. Ngõ này là nơi đãi bạn văn chương của Huế, không phân biệt sang hèn, chức phận, nơi đây chỉ có một cõi đến và đi: rượu Cỏ Cú và những cơn say dài như mưa, hun hút sâu như ân tình ngõ Huế, và cao rộng như cái đẹp bên trời...
                                                                        HỒ ĐĂNG THANH NGỌC.

Gió trên đinh Bach Mã

     Với tôi, ấn tượng đầu tiên về Bạch Mã không phải là gió mà là mây. Bạch Mã là một núi mây. Nhiều lần lên Bạch Mã, tôi chỉ tâm niệm một điều là được nhìn thấy mây từ Vọng Hải Đài, rồi thôi. Mây Bạch Mã là một thứ mây con gái, thường xuất hiện trong những khoảnh khắc nơi thung lũng, rồi tan biến như một nàng tiên vừa giáng thế. Điều đó cũng dễ hiểu thôi bởi nàng mây Bạch Mã thuộc về xứ Huế, không như nàng mây Tam Đảo, cứ thản nhiên xồng xộc cả vào phòng khách lạ chọc ghẹo chơi rồi bỏ đi không nói thưa gì. Trong nhiều năm qua từ khi biết Bạch Mã, tôi như chàng trai thầm yêu trộm nhớ, luôn khấp khởi đợi chờ được nhìn thấy mặt người yêu, trong một tư thế lén lút. Và như thể đáp lại tấm thịnh tình của một kẻ dại khờ, nhút nhát, nàng thường hiện lên trong những phút giây cơ hồ như tôi đã bắt đầu tuyệt vọng, làm cho tôi vui sướng mừng rỡ vô cùng. Có khi tôi thấy nàng trong vũ điệu ba-lê tha thướt như tên gọi của nàng. Có khi tôi run rẩy thấy nàng đang tắm từ ngoài khơi xa rồi kéo về phơi mình trên những rặng cây, nền nã và sạch sẽ. Lâu dần quen đi, tôi không còn rụt rè trước nàng và cảm nhận rằng nàng thật dễ gần và vui tính. Cũng có khi nàng như trêu đùa tôi, biến thành một mụ phù thuỷ già đen đúa, bẩn thỉu và kháu ó. Mặc nàng đùa, tôi vẫn cứ vừa nhấp rượu vừa ngắm nàng. Cho đến một hôm, tôi thấy nàng trong một vóc dáng Bạch Tuyết mặc chiếc áo váy trắng xoá đi từ Ngũ Hồ lên, giấu mặt trong một tán cây rừng, e ấp như một cô dâu. Hôm đó tôi không kìm lòng được nữa trong một cơn say ngất trời, tôi đã nói với nàng rằng tôi yêu nàng, dù không biết nàng có nhận lời hay không...
    Sau lần tỏ tình thật kỳ lạ trên đỉnh Bạch Mã ấy, nàng vẫn thường hiện ra trước mắt tôi với muôn vàn hình hài đẹp đẽ kỳ lạ. Nhưng có những lần, tôi hoài công ngồi chờ song nàng đi đâu vắng, lỗi hẹn. Và trong nỗi buồn trống vắng ấy, tôi nhận ra trên đỉnh Bạch Mã còn có gió. Gió như một triết gia đi lang thang thủ thỉ câu chuyện nhân tình. Có hôm gió kể cho tôi nghe câu chuyện nồng nàn, mặn mòi biển cả. Có hôm câu chuyện lạnh giá như một đồng bạc rơi vô cảm trong tim người. Có hôm câu chuyện buồn như không thể buồn hơn nữa. Song gió cũng có những câu chuyện vui, thật vui...Và cùng với gió, tôi kể cho gió những câu chuyện của mình, rằng tôi cũng có những kỷ niệm quá vãng vui và buồn, dẫu biết rằng câu chuyện rồi cũng “để gió cuốn đi”. Hôm nay, tôi kể cho gió nghe một chuyện bâng quơ nhưng với tôi là đáng nhớ.
    Vào những ngày đã cũ, có lần tôi cùng anh em công tác xã hội đóng trại ở Bạch Mã, cùng tham gia có mấy sinh viên người Pháp. Những sinh viên ấy đã ky cóp dành dụm, kể cả đi làm thuê nữa, để có tiền sang Huế trợ giúp cho trẻ em đường phố một số công trình. Đáp lại tấm thịnh tình ấy, anh em công tác xã hội ở Huế mời họ cùng leo núi Bạch Mã. Một ngày rong ruổi trong rừng thật vui. Đến cuối ngày, lúc đang ở trên đỉnh Vọng Hải Đài, bỗng nhiên gió giật ầm ào, tôi nhận ra đây là một cơn lốc rừng. Rất nhanh chóng, mọi người thoát xuống núi. Gió mạnh đến mức nhiều khi cứ ngỡ là thân hình gầy guộc của tôi ngày ấy sẽ bị thổi bay mất xuống vực bởi con đường thưở đó chưa tốt như bây giờ. May thay, có khá nhiều lau che suốt dọc đường về. Loài cỏ nở hoa thật lạ, đang thanh xuân đã vội bạc đầu. Ấy vậy mà cỏ đã chở che, an ủi không biết bao nhiêu con người bé nhỏ như tôi. Cùng đi với tôi hôm ấy có Thể, nhân viên kiểm lâm  của Vườn quốc gia Bạch Mã và Elisa. Elisa níu tay tôi cùng xuống một khe vực nhỏ. Gió quấn cả mái tóc dài của Elisa lên mắt mũi tôi như thể là một loài mây lạ, không dễ gì quên được. Đang lâng lâng vì cảm giác kỳ lạ ấy, Elisa bỗng nhiên kéo tay tôi đứng lại, chỉ vào trong lùm cây ven đường. Tôi nhìn theo hướng tay nàng chỉ, nhận ra dưới gốc lau có một tổ chim sơn ca đất có hai con chim non nhỏ xíu đang run bắn vì lạnh. Tôi ra hiệu là nên dùng khăn để quấn cho chúng nó đỡ lạnh. Elisa làm theo tôi, lấy chiếc khăn nàng đang dùng thoang thoảng mùi nước hoa thơm nhẹ nhàng quấn đôi chim non. Bất giác, tôi thấy Thể mỉm cười. Lúc đó tôi đoan chắc là anh hài lòng với những người yêu thiên nhiên như hai đứa chúng tôi. Đôi chim non có vẻ bình yên khi nằm trong vòng khăn ấm áp của Elisa. Chúng tôi nhìn nhau cười và tiếp tục xuống núi, là tốp về sau cùng của đòan.
    Khi chiếc bạt cuối cùng vừa căng lên, trời vừa kịp tối và mưa rừng đổ xuống ào ạt. Hú vía. Lâu lắm, tôi mới lại gặp cơn mưa rừng lớn như vậy. Phải mất hơn tiếng đồng hồ sau, chúng tôi mới dùng xong bữa tối vì mọi thứ cứ rối tinh lên. Tôi ngồi nhìn sang bên lều của Elisa, nàng hiện ra qua màn mưa và dưới ánh đèn pin hắt sáng trên tấm bạt mơ hồ như một cây nấm di động. Bỗng nhiên tôi thấy ớn lạnh và nhận ra mình đã sai lầm lúc chiều, khi gợi ý cho Elisa quàng khăn cho lũ chim non. Mưa sẽ làm khăn ướt và chim sẽ bị lạnh, con chim mẹ không tài nào tháo chiếc khăn ấy ra được. Tôi đứng dậy tìm áo mưa, cầm đèn pin bước ra. Cũng gần như cùng lúc, Elisa bước ra ngoài, đi nhanh đến chỗ tôi. Tôi lõm bõm vài câu tiếng Anh với nàng rằng tôi sẽ đến chỗ tổ chim sơn ca. Nàng gật đầu ra hiệu hiểu những gì tôi nói và chúng tôi cùng đi. Khi ánh đèn rọi vào tổ, chúng tôi ngạc nhiên vì không thấy chiếc khăn đâu nữa cả, thay vào đó là một con chim sơn ca mẹ đang ấp đôi chim con nằm ngủ, mắt ngơ ngác trước ánh đèn. Cả hai chúng tôi đều thầm nghĩ, có lẽ gió đã cuốn chiếc khăn đi đâu đó rồi. Chúng tôi cầm tay nhau, cảm nhận sự bình yên đang diễn ra và trở về nơi đóng trại. Mưa đã tạnh tự lúc nào, và gió cũng đã lặng đi.
    Nhưng hơi lạnh từ núi đá càng về khuya càng tỏa ra buốt giá. Đống lửa  giữa rừng chỉ có mỗi mình đội trưởng Phùng ngồi, với cây đàn ghi ta, nghêu ngao hát. Hát một mình mãi cũng chán, Phùng đi tìm tôi lúc ấy đang rúc trong chăn, không ngủ nhưng cũng muốn nằm cho đỡ mệt. Tiếng của Phùng réo ngay bên tai:” Dậy! Dậy! Ai lại lên Bạch Mã để ngủ ?”. Tôi biết không thể nằm biếng được. Cũng thấy rằng không nên thờ ơ với thiên nhiên hoang dã một cách tuyệt vời như thế này, tôi nhập cuộc bên đống lửa. Phùng và tôi uống rượu và hát, cái lạnh lùi dần. Và không biết tự khi nào, các nàng tiên đã rủ bỏ tấm chăn của mình để ra quây quần quanh lửa, cả Elisa. Chúng tôi bày cho các bạn thanh niên Pháp hát đồng dao và cả nhạc Trịnh Công Sơn nữa, rằng:” Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi!”...Tôi nhờ một sinh viên khoa tiếng Pháp nói với Elisa rằng, chiếc khăn của nàng cũng là một tấm lòng, và nó đã bị gió cuốn đi, như lời bài hát. Elisa nhìn tôi cười, gật gật đầu, hát ngọng líu:” De gio cuon di”...Cứ thế, chúng tôi ngồi bên nhau cho đến sáng.
    Nhưng chiếc khăn của Elisa không hề bị gió cuốn đi. Nó nằm lại trong bàn tay của chàng kiểm lâm tên Thể. Buổi sáng, Thể đưa tôi lại chiếc khăn và nói rằng, Thể không muốn làm Elisa buồn nên đã để nàng tự do quấn khăn cho chim. Khi đưa cả hai chúng tôi về cho kịp đoàn, anh quay ngay trở lại để lấy chiếc khăn ra, trả cho chúng về với thiên nhiên thật sự, bởi vì mẹ của chúng sẽ về kịp. Tôi nhận lại chiếc khăn, kể cho Thể nghe chuyện hồi đêm dẫn Elisa đi tháo chiếc khăn cho chim. Thể cười hiền và chào tôi. Tôi tìm Elisa bên suối đưa trả chiếc khăn cho nàng. Nàng rất ngạc nhiên khi biết được câu chuyện. “ Thể đâu rồi?”. Nàng hỏi và rủ tôi đi tìm. Nhưng Thể đã đi rồi, hôm nay dẫn đòan đi là một nhân viên kiểm lâm  khác.
    -“ The cung la gio...”. Elisa nói rằng, Thể cũng là ngọn gió như trong nhạc Trịnh. Tôi mường tượng lại ngày hôm qua, lúc Thể quay lại tổ chim để lấy chiếc khăn, gió thổi rất mạnh. Gió đã xô cả Elisa ngả vào tôi khi chúng tôi chỉ còn một trăm mét nữa là về đến nơi đóng trại. Vâng, chính trong cơn lốc mịt mù ấy, núi Bạch Mã đã có một thứ gió khác, xa lạ vô cùng với bao nỗi toan lo đời thực, thứ gió ấy trong mỗi người chúng ta ai cũng có, miễn là có cơ hội để thoát thai ra, ngọn gió cuả nồng ấm tình yêu thiên nhiên và cả con người...

Màu yên tĩnh

           Buổi sáng trong công viên bên bờ sông Hương cỏ dậy xanh lên một màu non tươi xanh, rồi từ những đầu cỏ lá ứa những giọt sương để dành từ hôm qua. Mà cũng có thể là để dành từ hàng triệu năm rồi, bởi cái giọt sương ấy, bây giờ mới ứa ra mà quy luật mỏng manh của giọt sương thì đã có hàng bao nhiêu năm. Giọt cà phê rơi thật chậm, thằng bạn ngồi không nói, nhìn yên tĩnh vào cái ly thứ ba để dành cho một người bạn đã đi xa…Tôi cũng không nói, nhớ rằng đã lâu như quy luật mỏng manh sương, em bất ngờ không nói năng với tôi, như thể những cánh chuồn chuồn thôi nói năng với cỏ trong cõi chiều đầy nắng gió. Những cánh chuồn em bay lên cao vọi và những cọng cỏ của tôi cũng không níu kéo, không gọi tên lên nữa…
            Hôm nào đó, riết róng một tham chiếu bảng màu trong ký ức, tôi nói té ra cái gì trong cõi đời này cũng đều có màu sắc của nó. Người xưa nói, màu thời gian xanh, gương thời gian tím, nhớ cũng màu tím, chia ly màu đỏ tươi cánh nhạn lai hồng, nắng cũng có màu thiền…Quay quắt nhất là cái màu hồng của hạnh phúc. Bao nhiêu lớp người trên thế gian mỏi mòn đi tìm nó, và bao nhiêu người đã đánh rơi nó như thể cầm vàng lại để vàng rơi. Còn bọn trẻ bây giờ thì nghịch ngợm rằng tình yêu nó có màu nho, rồi cười rinh rích. Đó là cái màu của hậu thiên đường là ngõ cụt…
            Mắt nâu của em ngày xa vắng thách thức tiếng chim trong khu vườn có màu gì? Tôi bật cười: màu yên tĩnh. Tôi tưởng như em đang căng cả làn da trắng mịn ra để thấm vào người cái màu yên tĩnh trong khu vườn ngày ấy. Yên tĩnh đến nỗi, một tiếng chim sâu thôi cũng đã tấu lên thành một bản giao hưởng hoành tráng. Tôi kể ngày xưa, cô giáo dạy về thần thoại Hy Lạp có nhắc đến nữ thần Iris, là nữ sứ giả của các thần. Nàng có đôi cánh nhẹ nhàng, thanh thoát. Nàng đi đôi ủng có cánh, mặc áo sa mỏng màu sắc cầu vồng tung bày xoè rộng trên không. Iris tượng trưng cho cầu vồng và nói chung, cho mối lên hệ giữa đất và trời, giữa thần linh và người trần…Tôi nhìn em, em cũng là một Iris, người dẫn truyền một luồng tâm linh có nguồn gốc thánh thần. Em bứt ngọn lá tre non hình chiếc hài ném xuống đất. Em cũng đã từng muốn làm thiên sứ cho những điều tốt đẹp, thế nhưng làm điều đó quả không dễ bởi nhiều người không thể hiểu nổi những thiện chí của mơ mộng. Giống như không thể đi qua sông bằng chiếc lá tre này…Một vòng tay ôm có khi là thiên sứ, nhưng đa phần là tai ương…
Một tứ thơ của đại văn hào Vích tô Huy Gô rằng: Sự sống ban đầu một nửa là thú vật một nửa là rừng, nhưng không khí muốn biến thành tinh thần nên con người xuất hiện. Khu vườn trưa sao yên tĩnh. Sự yên tĩnh như muốn lọc không khí trong vườn cho trong lành hơn, cho tinh thần chân chất hơn. Ấy vậy mà cứ có cảm giác sự yên tĩnh ở vườn An Hiên như thờ ơ với người đang đến nhưng lại làm day dứt kẻ sắp ra đi. Song cỏ cây trong vườn lại đua nhau sôi động, như thể làm duyên làm dáng với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Sự duyên dáng của yên tĩnh như thể một bức tranh lập thể xanh ngắt màu diệp lục. Ngày đó bàn tay em cũng xanh lá, mềm như chiếc lá. Tôi cầm chiếc lá em trong tay, nghe tay em nằm im như màu yên tĩnh ban trưa vườn An Hiên. Những ngón tay em nhẹ như không mà sao đến nay tôi vẫn nghe trĩu nặng trong lòng?
Tôi như đã chết trong trời vắng/Em đã không cười, không nói năng/ Yên tĩnh vườn xanh mùa    tím lạ/Tím trời, tím đất, tím âm dương”. Em bây giờ vẫn vẽ lại những chiếc lá, cành hoa khu vườn xưa bằng những giọt mưa. Nhưng tôi biết đã xa rồi màu yên tĩnh khu vườn xa xưa ấy. Bây giờ nhiều khi lên đứng dưới gốc măng cụt ngày xưa trong vườn, tôi thấy mình như ngọn gió cô độc, lạc lỏng giữa bao nhiêu người. Hình như tôi đã trồng ở đây một cây thương nhớ, cây đã ra hoa, màu yên tĩnh day dứt xanh và ngăn ngắt tím như một ước mơ đổ vỡ. Ở đó, một chiếc tổ chim sâu bé bỏng vẫn tấu lên những thanh âm bằng những nốt nhạc trong trẻo ngân thầm từ miền ký ức, xao động lạ lùng.
                                                                                                                    HỒ ĐĂNG THANH NGỌC

Y áo

Y áo em sương khói rơi đầy
Mưa mấy độ tím mắt buồn ngái ngủ
Ta xa vắng cơn mưa mòng xưa cũ
Rũ lũ mặt trời trốn giấc chiêm bao

Y áo em xanh thưở buồn còn biết khóc
Chim reo trên những chiếc hoa vàng
Y áo em từ nghìn thu vuốt tóc
Tuổi mộng mơ tròn lại chiếc sao băng

Ta từ độ về giàn hoa xác pháo
Y áo em hồng rớt lại dấu chân khuya
Lời từ tạ buồn đầy không biết nhớ
Lẫn vào trăng từ thưở hao gầy

Y áo em từ đó rất kêu sa
Y áo em từ nghìn thu buộc tóc
Ai sang ngang áo hoa cà tím buốt
Rũ phần hồn ở lại bến sông câm

Lũ bướm ạ ngày xưa rồi đã khép
Khúc ca yêu y áo cuối cung đàn
Dây tơ đứt ai về không nối lại
Lũ dế mèn từ đó biết lang thang.

Vẽ nỗi buồn

Có một ngày đem nỗi buồn vẽ chơi
Bảng màu buồn phơi đen kịt cái chết của những dòng sông ô nhiễm chảy vào ám ảnh tâm cảm tôi
Màu trong vắt của nước mắt mẹ khóc những đứa con không bao giờ về nữa
Màu chuột chết của những ngụy tạo ụp lên tôi
Màu phôi phai đầy gió của những dối lừa
Màu xao xác của ngược xuôi kiếm sống bỏ rơi mệt nhoài hai bên tay áo những ký ức đẹp đẽ ngày xưa

Tôi vẽ nỗi buồn của em màu xanh nhiều như những ngôi sao trên trời
Ở đó có những lỗ đen như vực thẳm tình yêu
Chúng ta đã rơi bằng tốc độ của những tia sáng
Xuyên qua những nỗi buồn quanh đây

Hôm qua tôi đã cố vẽ nỗi buồn như một cái đuôi gà trống
Có sợi lông xanh bên này thì phải có chiếc lông xanh bên kia
Chợt nhận ra nỗi buồn không phải là cái đuôi gà trống
Nó không bao giờ hoàn hảo cho sự phủ dụ những con gà mái

Nỗi buồn của tôi
Trắng xoá.

Ngọn gió

Vào một ngày không hẹn trước
Có ngọn gió thiêng đi qua cánh đồng cỏ khô khát cháy
Những cọng cỏ thức dậy
Và bắt đầu cuộc vũ hội của cỏ
Tôi vùi mặt vào cỏ và thấy tôi trong đó
Và gió ru tôi về những miền tôi hằng ước vọng
Phóng khoáng và cao vợi như những khoảng không đầy những tinh cầu
Chảy đi dải thiên hà xa xôi kia ơi!

Vào một ngày không hẹn trước
Gió thổi qua mặt sông im lìm
Và dòng sông gợn sóng
Tôi bắt đầu thả con thuyền giấy tuổi thơ tôi
Với một cánh buồm nâu căng nỗi nhớ
Gió đưa thuyền về những bến bờ xa lắc
Hãy ra biển đi thuyền ơi!
Dẫu biển rộng và đầy bão tố

Khi rơi từ chân không
Tôi đã ôm lấy gió như chạm vào một điệp khúc
Câm lặng và bí ẩn
Và từ đó tôi đầy gió
Hãy bay đi gió ơi!
Dẫu bay vào hư vô

Có một lúc nào em không tin tôi
Em có thể hỏi gió
Kể cả khi gió lặng câm
Có thể gió đã nói rằng
Có một chiếc lá rơi về cội
                          Nằm lên cỏ
                             Nằm trong gió
                                 Và trong cả những nghi ngờ...

Ngày cũ

Tờ lịch cuối cùng rơi xuống
Bỗng nhiên mưa như trút hết nỗi buồn lên thành cổ
Nỗi buồn cong hay thời gian cong?

Ngày cũ là những chiếc cầu vồng
Có chú bé tặng cho cô bé trong sân trường một con gà đan bằng cỏ
Hôm ấy cũng sau cơn mưa, nắng lên và chiếc cầu vồng hiện ra trong mắt trẻ.
Bầu trời sao mà trong xanh cao vọi thế!
Ôi thời gian cong!

Những mùa cỏ gà rồi cũng đi qua
Những tờ lịch rơi
      những mùa mưa rơi,
            những nỗi buồn rơi cong
những cầu vồng và những thời gian cong
Tôi treo mình trên một chiếc lá nhạc ngựa
Nghe tháng ngày lóc cóc nhảy nhót hót chơi

Ước gì có đủ sức để uốn thời gian cong vòng lại
Để tôi gặp lại ngày cũ
Chỉ để nhổ một cọng cỏ gà
Tặng cho cô bé hoàng hậu
Rồi đi...

Mưa những ngày tôi yêu em

Mưa
Tôi bắt đầu hành trình lầm lũi trở về những ngày trẻ thơ hồn nhiên tắm mưa
Trở về những khu xóm nhỏ luyênh loáng nước cuốn toóc rạ trôi ra đường
Những đứa trẻ bụng ỏng cởi truồng no nê tắm
                                    như tắm thân phận mình
                                                khi lớn chúng không hồn nhiên như thế nữa...
                                               
***
Mưa
Tôi bắt đầu hành trình lướt thướt những ngày yêu em
Tình yêu như những sợi mưa xứ Huế đan dệt ngày đêm
                                    thành lũ, thành bão, thành cuồng phong...
                                                để rồi tan như sương khói một ngày
                                                                                                nắng sáng bên sông
Chỉ để lại những vũng bùn kỷ niệm, những cơn mưa kỷ niệm
Róc rách chảy đến bây giờ trong các vỉa tầng ký ức
                                                           
***
Mưa
Có con chim sẻ trú mưa trong nỗi cô đơn bên hiên nhà
Tôi nhìn thấy tôi đang rỉa lông cánh
Và kêu lên những lời vô nghĩa
Trong ầm ào vô nghĩa mưa
                                    và tiếng xe hơi chạy rát mặt đường

Tôi như con chim sẻ kia không muốn nói với ai điều gì nữa
Ngoài nỗi cô đơn ẩm ướt
***
May mà nỗi cô đơn vẫn còn ẩm ướt...                                                                                          

Lời ạ, ngàn sau

Rằng đó từ xưa ta tàn cuộc hội
Rêu đá trăm năm còn đợi nhau về
Cánh diều kêu mỏi mòn dây gió bụi
Lời của ngàn xưa ai hát từng hồi

Đêm khuya dặn lòng buồn say ngủ lại
Thảo nguyên còn xanh xa cuối chân trời
Lũ sói hãy còn hiền trông xác thỏ
Ngọn roi hư không dạy dỗ bao điều

Thì thôi về lại vườn hoa xấu hổ
Cổ tích còn đây ngủ vùi mơ đầy
Cây khế ngày xưa phượng hoàng về đậu
Có ai bán đi tìm được đồng vàng

Ta buồn suốt ngày ai không cổ tích
An đéc xen xưa cũng rũ áo về
Lũ trẻ lớn lên chơi trò điện tử
Chú bé ở truồng gọi mãi ân nhân

Hãy cho tôi nhìn em

Hãy cho tôi nhìn em
Ở đó có những cánh chuồn tuổi thơ tôi
Rung rinh trên những cọng cỏ
Và những cánh chim non yếu ớt
Hát ca mừng ngày mới bắt đầu
Những cánh diều trong bóng chiều lộng gió
Bay như tóc em bay một chiều nào...
***
Hãy cho tôi nhìn em
Để nhớ những ngày xưa rất xanh
Tôi hôn lên đôi mắt người con gái
Như hôn lên giấc mơ của mình
Những giấc mơ về bầu trời cao rộng
                                                            chầm chậm trôi đi những cánh thiên di
            Và xao động những dải thiên hà
                                    ***
Hãy cho tôi nhìn em
Để nhớ về những niềm vui của tôi
                        những niềm vui hiếm hoi như sao trời đêm đông
                        những niềm vui nhỏ như cánh én
Hãy cho tôi nhìn và em hãy cười đi!
Ôi nụ cười rất xinh của em
                                    ***
Hãy cho tôi nhìn em
Để nhớ về những nỗi buồn đầy lên trong tim
                                                            trong những chiều cả gió
Đầy như mưa trời đêm qua rơi xuống nụ quỳnh
Một ngày xưa đưa giấc mơ xuống thuyền
Tôi sang sông lòng không ngoảnh lại
                                    ***
Hãy cho tôi nhìn em
Để thêm một lần nhìn thấy khát vọng
Chúng đã rất xanh và đã cháy lên nồng nàn trong khuôn ngực
Như thanh xuân của em
Như ước mơ của em
                                    ***
Hãy cho tôi nhìn em
Nỗi nhớ của tôi
Niềm vui của tôi
Nỗi buồn của tôi
Khát vọng của tôi
Một chiều nào sông Hương đầy mưa
Tôi nhìn rất sâu vào đôi mắt nâu
Hiển hiện gương mặt thánh thiện
            Và mái tóc ai dài như sông xanh
Tôi cầm tay em như cầm được giấc mơ của mình
Những giấc mơ bay lên trong gió...
                                                                                    2/7/2005

Giấc mưa

Bỗng nhiên giấc mưa gõ vào mòng mơ
Cho nỗi khắc khoải trở về như một trò chơi cồn cào trên mái lá
Mưa quy đồng mẫu số đẫm ướt
Gõ lời vào tháng năm

Mưa
Giấc buồn cho chiếc lá ngủ ngoan trên đất vô tư
Ngọt ngào hơn một lần nhắm mắt
Một sáng nào em hứng giọt mưa về rửa mặt
Nên trời còn mưa như mưa

nhịp điệu ủ hồn nao nao như chờ ngóng ai
trong mắt ngọn đèn đường suốt những đêm dài không ngủ
Có những bài thơ vô thức
Như ánh đèn dọi sáng giọt mưa qua

Mưa sau giấc nửa đêm
Những nàng tiên giáng trần cùng vũ hội
Gọi ai gọi ai trong hư không
Gọi ai về với ta
trong giấc sống
mỗi ngày.

Gánh cơm hến đi trong sương

Phá vỡ sự đông đặc trắng
lửa hồng gánh cơm hến của em
mở lối trong sương
thành phố bắt đầu tỉnh giấc


Gánh cơm hến của em đi trong sương
Tôi nhìn thấy lễ hội của rau cỏ
mười ba hay mười bốn
                                    những đoàn xiếc xanh và đỏ treo ngược
những cay-đắng-ngọt-bùi
trộn lẫn những chiêm nghiệm của dòng Hương
                                    qua nghìn triệu mắt hến
ôi xanh Huế nói gì trên vai em?


Nói gì mà chén cơm nguội vẫn bốc khói?
Nói gì mà miếng da rán rộn ràng?
Nói gì mà miếng cơm hến thanh ngọt đọng mùi bùn
                                    những ngày sông đục
Nói gì mà cay?


Mỗi sáng người sông Hương điểm tâm
                                    bằng triết lý cuộc đời
nên mỗi người là một triết nhân, là nghệ sỹ
làm nên sự sang trọng của nghèo khó
và sự tinh tế của dân dã...
từ một chút cơm nguội, chút ruốc, chút muối, chút hến và vô số rau cỏ...
và những trái ớt cay-sự lừa dối tự nuôi sống.


Rồi em vẫy những chiếc nón chào những người xa lạ
đổi sự im lặng sống động này lấy sự sống động khác

Từ lễ hội của rau cỏ
Em làm nên "thành phố của nghệ thuật sống"

Rộn rã bước vào gánh cơm hến bốc khỏi của em
lắng nghe sự thủy chung sôi động
rồi hít hà thấy mồ hôi mặn của mình nhỏ xuống
Ôi thành phố này! Đừng có bốc hơi đi!
                                                                                    2.12.2002

Biệt cung

Đã khép lại rồi cánh cửa nối về phía Tây (*)
Ngoài ấy là dòng Hương thao thiết chảy
Ôi bức tường này, bức tường bên kia, bức tường trước mặt
Làm sao mà cao vời vợi thế?

*
Dưới lòng đất bên kia có một người đang yên nghỉ
Người đó từng là đấng quyền năng bậc nhất
Đã từng cùng một chữ "Khiêm" dạo chơi
Từng làm cho gió ở biệt cung này cũng reo lên vì vui sướng
Đã từng làm cho muôn loài ngã rạp dưới chân người
Và từng đêm, nơi đây rung lên những vũ khúc trình tấu
Cho người được quên đi những mềm yếu trong đời
Sao người không dạo chơi thêm vài mùa xuân nữa
Cho em được nở hoa một lần
Nở riết róng như loài sen người cho trồng khắp các lạch hồ...

*
Y, Trì, Tùng, Dụng
Khi người đi xa, chỉ còn chúng em với biệt cung vĩnh cửu
Khoảng trời của em là những đám mây lang thang qua ô cửa tò vò
Kéo theo mùa xuân vô nghĩa của em đi
Ôi những bức tường này, bức tường kia, bức tường trước mặt
Sao mà ngày một cao lên thế!

*
Những nhức nhối xuân thì dần tắt lịm
Và có một loài trinh nữ hòang cung
Từ đó ra đời...
                                    23.11.2005

(*) Trong lăng vua Tự Đức có một biệt cung. Nguyên đó là khu Y, Trì, Tùng, Dụng dành cho các cung nữ đi theo hầu vua ở mỗi khi vua lên lăng chơi. Khi vua băng hà, các cung nữ này được đưa lên ở biệt lập tại đây. Người ta xây bít cửa phía Tây lại và xây tường cao lên, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Và những cung nữ đã sống biệt lập tại đây cho đến khi qua đời...

Hoa cỏ dại khờ

              Nhiều khi tôi tự hỏi, nếu lọc bỏ đi những ngày tháng ấu thơ vui đùa cùng hoa cỏ dại khờ nơi miền quê hoang vắng, tôi sẽ còn lại gì? Tự hỏi rồi tự trả lời, và thấy rằng nếu điều đó xảy ra, tôi sẽ vẫn còn lại những thứ như tôi đang có, là nhịp sống hiện đại với những toan lo vô bờ bến, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn tôi, đã mất cái gốc gác của những hứng khởi mà cỏ hoa ngày cũ đã hun đúc nên một tôi với tâm hồn yêu thiên nhiên say đắm.
            Nhưng nói vậy thôi, cái chữ nếu ấy không bao giờ xảy ra được, không chỉ đối với tôi mà tôi nghĩ những ai từng có những ngày tháng vui đùa cùng hoa cỏ miền quê như tôi, đều cũng không thể quên những dáng hoa cỏ dại khờ ngày xưa ấy. Làm sao có thể quên được cái sắc tím đằm đẹ của bông rau khoai, sắc tím giòn dai của bông hoa rau muống, tím xé gan xé ruột của của hàng rào hoa tầm xuân hay gốc khế tím rưng rưng nhớ trong góc vườn xưa ngày đó ...Chao ơi, mới chỉ một màu tím hoa cỏ miền quê đó thôi, mà bao nhiêu nỗi nhớ đã dâng đầy. Như bông khoai lang, dường như chỉ nở khi người ta bỏ quên nó trong vườn hoang vắng, hay như câu ca dao này, ai nghe mà không nao ruột nao lòng: “Chờ anh đã quá sức chờ, chờ cho rau muốn lên bờ trổ bông”...
            Ra Giêng một thóang, tháng Hai trồng đậu tháng Ba trồng cà, đó cũng là lúc hoa cà tím rưng rức màu cổ tích chuyện người con gái may áo chưa mặc một lần nở khúc khủyu trên những luống cà ven sông. Cà pháo nho nhỏ nở tím đành hanh nhưng cà đĩa trái lớn thì tím trặm trịa, tím phơn phớt mà khiến cho như có ai đó kêu lên là tím nhức xương, tím phơn phớt mà hút hồn bao nhiêu thi sỹ. Buổi chiều nhìn hoa cà nở, nghe mấy anh trai làng ngồi hát boléro Chợ Nọ nữa là thấy mình cũng đang chuyển sang tim tím như câu hát chung thủy ngày xưa “Tôi với nàng, hai đứa nguyện yêu nhau, tha thiết từ nay cho đến ngày bạc đầu...”
            “Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”. Ca dao xưa nói thế thôi, chứ tôi đoan chắc cái anh trai làng rời quê chắc chắn còn vương trong mắt màu hoa cải vàng hoe hoắc bên triền sông, rực rỡ ngời tươi mênh mông một sáng hay se thắt vàng một chiều gió cả. Tôi có người bạn từ làng quê trưởng thành nơi phố thị. Lúc nào uống say cũng sửa một câu thơ của Dư Thị Hòan thành ra “Hoa cải vàng ơi, theo ta làm chi cho dang dở ?”...Chẳng biết anh ta dang dở kiểu chi, hay là hình ảnh cùng người đẹp thôn nữ với đôi quang gánh thong dong ra về sau buổi làm đồng còn vương vấn lấy anh, làm trái tim anh điêu đứng? Cũng không biết bao nhiêu lần tôi đi dọc triền sông Hương hay sông Bồ và bất ngờ bắt gặp ngập tràn khúc sông một màu vàng quay quắt nỗi niềm ấy, lòng dậy lên bao hòai cảm. Và cũng trên những triền sông, hoa bắp lay khi sông nước còn gió xuân, hỏi ai không mặc khải mình đang đi vào một cuộc viễn du xưa trong ý thơ Hàn thi nhân: “Gió theo lối gió mây đường mây, dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”.
            Từ bờ sông vào chỉ vài trăm thước, hoa nhà quê nở hẹn hò mùa vụ trên những cái giàn bắt ngay trước hiên nhà. Mùa xuân, khi mưa phùn còn lay phay bay lớp lớp từ cao vọi tầng không, các loài hoa bí, hoa bầu, hoa mướp đua nhau nở. Hoa bầu trắng với cái nụ cuống ngửa mặt lên trời mà nở chờ đậu trái, hoa bí ngô vàng đục, hoa mướp ngọt vàng tươi, hoa mướp đắng xanh xanh điểm vàng...là những sắc màu yêu thương, và quyến rũ thật nhiều ong bướm. Tôi tin rằng những đứa trẻ lớn lên trong những khu vườn nơi làng mạc, bài học đầu tiên về lẽ sinh tồn bao giờ cũng là bài học đơm hoa kết trái từ giàn bí giàn bầu của mẹ. Và cả bài học về lòng nhân ái, về nghĩa đồng bào cũng từ đó, từ lúc nằm nôi nghe câu ca dao “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” cho đến khi chập chững ra sân nhà vui mắt nhìn hoa bầu bí nở, đó là một chặng đường dài của lớp học thiên nhiên đầy chất nhân văn như ngày nay chúng ta thường nói, từ lý luận đến thực tiễn...Và lớn lên một chút, cũng đứa trẻ ấy chơi trò chơi bút mực từ dậu mồng tơi bên hiên nhà, và vài năm sau đó, cũng trong không gian màu tím mực mồng tơi ấy, có lúng liếng ánh mắt của cô gái bên kia hàng xóm, để có lúc chàng trai ngồi thẩn thờ: “Giá đừng có dậu mồng tơi, thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng” (Nguyễn Bính)...
            Tôi thường tự hỏi không biết từ bao giờ, hoa cỏ cũng bắt đầu có sự phân biệt giữa làng quê và phố thị. Ở trong không gian tre trúc, các loài hoa “quý tộc” như hồng, phong lan, hải đường...chỉ mọc thưa thớt ở một vài ngôi nhà sành điệu. Còn đa phần trong ngôi vườn đơn sơ những người cày sâu cuốc bẩm, hoa của họ là thứ hoa để vọng tưởng ông bà tổ tiên: bông phượng, bông trang, bông vạn thọ, bông cúc, về sau này có thêm huệ, lay ơn...là những thứ hoa để đơm cúng cùng với nải chuối, quả cam, quả bưởi...Một khóm hoa đồng tiền, hoa thược dược, hoa hướng dương...đã là xa xỉ mà mùa xuân, trong một khỏang nông nhàn nào đó, họ tình cờ bắt gặp mới đem trồng. Thế đó, hoa cỏ vườn quê tự ngày xửa ngày xưa đã là thứ hoa giữ gìn lễ nghĩa trong đời, đã mấy ngàn năm rồi không khác đi, và sẽ không bao giờ khác nữa...
            Những ngày xuân, ra vườn thấy hoa dại nở chíp chiu trong vườn chưa làm cỏ, thế nào cũng bất giác ngước mắt nhìn lên cây khế tim tím mùa hoa. Với gốc khế trong góc vườn, ở đó có biết bao nhiêu là câu chuyện: ăn khế trả vàng, bò chết gặp khế rụng, và “canh cá trầu mẹ thường hay nấu khế, khế trong vườn thêm tí rau thơm”, là món cá kho khế mà e chỉ duy nhất nhà bếp Huế mới hay làm...Nhiều chuyện đến mức nhiều khi sinh ra bất giác cảm hoài: “Ai sinh ra khế, khế ơi!”.
            Có một miền cỏ hoa khờ dại khác nữa là hoa dại ngòai đồng. Đó là sim, là mua, mâm xôi, trinh nữ, cơm rượu, cỏ voi, ngũ sắc...Cuối xuân, những triền dốc ngòai đồng hoang mọc đầy sim mua nở hoa tím ngát trời. So với hoa sim, hoa mua đẹp hơn nhiều, trái mua ăn cũng ngon không kém cạnh gì sim, thậm chí có vị ngọt ngào và thơm hương đồng nội hơn. Thế nhưng, như một nỗi bạc mệnh tiền kiếp, hoa mua không nổi tiếng bằng sim bởi hoa mua không đi vào thi ca bằng một con thuyền sâu thẳm như sim mà bài thơ “Màu tím hoa sim” của nhà thơ Hữu Loan chính là chiếc thuyền tím huyền thoại đó. Bài thơ ấy, đến nay đã có ba nhạc sỹ phổ nhạc và bài nào cũng hay, mỗi lần hát lên là mỗi lần cõi lòng vời vợi, như bay theo những đồi sim, chiều nao tím mấy đồi đi không hết. Hoa đồng cỏ nội đi vào thơ ca nhạc họa trên đất Việt khá nhiều, và mỗi lần đi vào đều đem lại những rưng rức trong mênh mông hồn người. Xếp hàng thứ hai sau hoa sim, có lẽ là hoa hổ ngươi nổi tiếng từ độ bài hát “Hoa trinh nữ” được nhiều người biết đến ở miền Nam trước 1975. Bài hát kể câu chuyện cổ tích về hoa trinh nữ, và lời kể chuyện thật ngọt ngào: “Xưa thật là xưa, nhớ mấy cho vừa nhớ mẹ kể chuyện đêm khuya. Có ông vua trẻ, xuất quân biên thùy dẹp quân xâm lấn...” Và cũng thật chân tình khi nói về hoa: “Hoa trinh nữ không mặn mà bằng nàng hồng kiêu sa, hoa đâu dám khoe màu như nàng cúc vàng tươi, và không ngát hương thơm như nàng dạ lý trong vườn, nhưng hoa trinh nữ đẹp tựa tình đôi chúng ta”...
            Cũng vào cuối mùa xuân, trên những đồng cỏ làng dành cho trâu ăn, hoa mâm xôi đỏ ối nở tròn trịa ven đường. Đối với trẻ thơ miền quê, mâm xôi là một sản vật trời cho tuyệt vời và dễ kiếm. Trong mâm ngũ quả của trẻ con ham chơi ngoài đồng, mâm xôi bao giờ cũng chiếm vị trí trang trọng không chỉ bởi cái màu sắc hay kích thước kha khá của nó, mà còn là sự phổ biến của những mâm xôi đỏ mà nhà trời đã như thêm màu gấc thật nhiều vào trong quá trình nấu thổi. Nhưng đặc sản của đồng nội chính là trái cơm rượu chín màu cam thuỗn dài xinh xắn như một con tằm. Ngày xưa, hoa trái cơm rượu không phải là quá hiếm, nhưng nay thì gần như không còn nữa, như thể đã bay đi cùng một khỏang thời gian ký ức xa xôi, như thể chiếc kim đồng hồ đã ngưng lại trên đồng cỏ xưa và những cỏ hoa huyền thoại ấy đã tự sắp xếp cho mình một cuộc viễn du vĩnh viễn vào miền quá khứ. Cũng trong danh sách hành khách đi vào miền quá vãng ấy, trên những lối đi nối làng qua làng, thôn qua thôn ngày xưa, bao giờ cũng gặp một bụi hoa ngũ sắc nở tưng bừng bên vệ đường. Hoa ngũ sắc thật sự là thứ hoa học trò, hoa nhiều màu tươi vui và thơm như trang vở mới. Cuối xuân sang hè, hoa ngũ sắc nở bừng cùng tiếng ve kêu và tiếng chim tu hú gọi từ đồng xa.
Nếu có một dịp đi và đếm lại cỏ hoa đồng nội, thật khó thể đi trong một ngày, một tuần hay một tháng, một năm. Đó phải là chuyến đi của một đời người, và dưới chân bao giờ cũng vướng đầy hoa cỏ may, cái sự vướng víu như giăng mắc những hoài niệm mà nếu như quên nó đi, ta đã tự đánh mất mình trong cuộc đời mọi thứ thuộc về ta đều hữu hạn...
                                                                        HỒ ĐĂNG THANH NGỌC