Có lẽ một trong những ấn tượng bình yên sâu sắc nhất là cái màu xanh im vắng của những ngõ nhỏ có rất nhiều ở Huế. Những ngõ nhỏ sâu hun hút như nỗi nhớ, như để đủ thời gian cho con người chiêm nghiệm cùng cây trái quanh đây, như để giăng mắc những cảm thức mơ hồ chằng chịt qua những nẻo đường đời, như để ai đó còn ngóng chờ ai mỗi bước chân đi về một ngày nào xa xưa, như để còn ngân nga trong câu hát của Trịnh Công Sơn: “Thương ai về ngõ tối...”vọng vang âm thầm trong lối nhỏ...
Nếu nói về những ngõ xanh im vắng, có lẽ Huế có nhiều nhất những hun hút xanh chan hòa đem lại cho con người cảm giác thư thái ấy. Sống ở Huế thật lâu, tôi mơ hồ những ngõ nhỏ xứ Huế như một sợi dây nối tâm hồn Huế ra với cao rộng cuộc đời. Sợi dây ấy đan bằng lá cây và sương khói, bện vào đó những âm vang bình dị từ những khu vườn và cả ánh sáng khiêm nhường của những thời khắc cảnh sắc không gian Huế, tất cả được đan bằng bàn tay của một tâm thức đầy mẫn cảm vừa lặng lẽ rêu phong vừa sôi động như ngọn gió qua rừng tre trúc.
Ngõ Huế, gần như là một tiếng gọi, thật gần mà lại mơ hồ xa vắng. Ngõ Huế, đó chính là cái cửa ngõ ngay trước ngôi nhà ấm áp khói lam chiều, là những ngõ quê thơm mùi đất, những ngõ vườn xao động hoa lá điệu đàng, những ngõ phố sống động đêm khuya, và cả những ngõ chùa nắng vàng như màu thiền xứ sở...
***
Người Huế hay nói “Trong nhà ngoài ngõ”, thì cũng đã là xem cửa ngõ là lối dẫn vào nhà, như lời ngõ của một cuốn sách, lời thưa của một câu chuyện. Tùy theo quan niệm mà có những cách nhìn khác nhau về cửa ngõ. Ví như quan niệm “Thần quyền” cho rằng cửa ngõ nhà ai cũng có thần môn, bao gồm các chư vị thần ảnh hưởng tới đất đai nhà cửa như: Thành Hoàng bổn thổ, Táo phủ thần quân, Thân môn Hộ úy...Bên cạnh cái yếm thế cho rằng thần môn có thể trừ tà ma, quan niệm này có cái hay là khuyên gia chủ lấy tâm thành ăn ở với đời thì thần “bất chấp bất trách”. Một chiều nắng nhạt bên sông Bồ, ông Hoài, một thợ mộc ngoài tuổi 90, ký ức rỗng dần chuyện đời ngồi kể về một cây thước quý ngày xưa. Ông nói để có một độ rộng hợp lý cho cánh cửa ngõ, người Huế xưa thường dùng thước Xích bộ. Tương truyền có nhà sư khi hành cước qua miền Thuận Hóa thời chúa Nguyễn, thấy người dân loay hoay dựng nhà cửa nơi vùng đất mới bèn đem thước Xích bộ ra truyền dạy. Thước Xích bộ cho rằng, con người khi mở cửa dựng nhà cần có kích tấc. Kích tấc ấy không ở đâu xa mà chính ở ngay mỗi con người. Một thước Xích bộ dài bằng hai bàn chân người nối nhau, sao cho ngón bàn chân này tiếp gót bàn chân kia cho vừa khít. Chủ nhà nào thì thước ấy, không phải ai cũng như ai. Thường thì một thước Xích bộ cũng dài bằng đầu vai này qua đầu vai kia của chủ nhà. Ý của thước Xích bộ ngoài cái tự chủ của mỗi ngôi nhà, còn dạy con người biết lý nghĩa, trên thuận dưới hòa, hai vai gánh vác, thuận chân bước ra với đời mà làm ăn cho kịp với người. Quy tắc chung của Xích bộ là “chớ để hụt ba, chớ qua mười bước”, nghĩa là tối thiểu là sáu bàn chân, tối đa không tới hai mươi bàn chân, thường thì lấy mười tám bàn chân làm chuẩn. Chớ để “hụt ba” là đừng để mất cái thế Thiên-Địa-Nhân, đó cũng là độ rộng cần thiết để có thể xoay trở đòn gánh khi đi ra, đi vô cửa ngõ. Chớ qua mười bước vì “nhân vô thập toàn”, người thường không dám sánh với bậc thánh hiền. Nay loại thước này gần như mất dạng, chỉ còn trong trí nhớ những người lớn tuổi như ông Hoài!
Xem ra, cửa ngõ cũng cho thấy cái thâm trầm của đất Cố đô. Người Huế thường cho rằng trong ngôi nhà ba gian hai chái của mình, gian giữa bao giờ cũng thờ thần chủ, gian bên phải phía trên thờ hoàng thổ (đất đai, nương vườn), gian bên trái phía dưới là nơi dành cho Táo quân, đàn bà con gái lo việc bếp núc. Vì vậy mở cửa ngõ vào nhà phải tránh mở thẳng hướng vào gian giữa, nếu vì cuộc đất buộc mở ngõ thẳng thì phải có bình phong chắn lại, sau đó làm lối rẽ lên phía gian trên, tối kỵ mở xuống gian dưới nơi bếp núc. Cũng bởi người Huế cho rằng cửa mở phía trên là trọng khách, cửa dưới bất quá là để cho gia súc (trâu bò) vào ra. Còn mở thẳng gian giữa theo kiểu “đường ngay ngõ thẳng” chỉ có vua chúa, bậc danh gia vọng tộc mới làm...Đa số cổng của hàng trăm phủ đệ ở Huế đều như vậy, mở cổng ngõ thẳng vào cửa chính có bình phong che chắn. Ngoài ngõ có chiếc cổng mái che để khách lỡ đường trú mưa, trú nắng...
Cái cách mở cửa ngõ của Huế nhắc nhủ rằng phàm làm người thì ĐI RA phải ăn ở có phải có trái, có trước có sau, có âm có dương, bước đi ra làm ăn với đời, công thành danh toại thì đừng quên chòm xóm nơi cái cuộc đất đã cho ta cái cửa cái nhà; đừng học thiên hạ cái câu “gần nhà xa cửa ngõ” mà kín cổng cao tường cho riêng mình, quên cái thưở “gần ngõ xó cươi” lúc mình còn được chòm xóm bảo bọc. Cũng vậy, ĐI VÔ thì phải nhớ câu “Chồng ngõ, vợ cươi”, đừng để cho “chồng đàng vợ sá”, lại dặn nhau “rộng cươi mà chật ngõ, mấy họ tới nhà; rộng ngõ chật cươi, không mời cũng có khách”...
***
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau, nhớ về quê mạ...”. Xưa, con gái Huế đi lấy chồng thường nương nhờ ngõ sau chốn quê cho vơi đi cái tủi phận làm dâu, nước mắt rơi thầm với cây cau, bụi chuối, rơi xuống đất đai ẩm mục. Cái ngõ quê từ đó hun hút vui buồn. Ở Huế, trong làng có phe (giáp), trong phe có xóm, trong xóm có ngõ. Thường ngõ xóm trồng tre trúc, có những hàng cau xanh mướt, ngõ nhà trồng chè tàu, dâm bụt. Màu xanh này nối với màu xanh kia thành làng xanh tít tắp. Đầu ngõ nhà nối xóm hay ngõ xóm nối đường làng bao giờ cũng là một ngả ba đủ rộng để con nít trong xóm tụ tập chơi đùa, là nơi người lớn gặp nhau trao nhau miếng trầu, câu chuyện...Những ngõ xóm hai bên đầy tre trúc nên mỗi ngõ là một con đường mang đặc trưng riêng, dẫn đến một thế giới riêng của những ngôi nhà trong xóm.
Nổi tiếng nhất Huế có lẽ là những ngõ xóm của làng xưa Phước Tích. Dọc theo đường làng ven sông, các ngõ xóm đón khách bằng những hàng chè tàu được trồng rất kỹ lưỡng, cứ xanh mướt hai bên lối đi vào xóm, vào nhà, làm cho ranh giới giữa vườn nhà này, nhà khác trở nên xoá nhòa, tạo một không gian đầm ấm theo đúng cái nghĩa chòm xóm tắt đèn tối lửa có nhau, không có cảm giác gay gắt như tường rào bằng bê tông đây đó. Những ngõ xóm dẫn vào không gian của tri thức hoà quyện với môi trường hoa trái, yên tĩnh và thanh sạch, làm cho những chủ nhân trở nên thanh nhã kỳ lạ. Cộng đồng dân cư trong các ngõ xóm ấy còn gìn giữ nếp gia phong, luôn ôn hoà, cởi mở với người ngoài. Trong mắt tôi, chủ nhân của những ngõ xanh này đã tạo được cho mình một phong cách sống cực kỳ đặc biệt, đó là biết ứng xử một cách đầy nhân văn trước cây cỏ và và con người. Gần như một cái cây trong ngõ xóm đều gắn liền với kỷ niệm bao nhiêu năm đời người, nên họ không hề chặt đi, và ngay cả những bà lão cũng không nề hà khi cầm cây kéo cắt tỉa cho hàng chè tàu thẳng thớm trong những ngày con cháu đi xa...
Những ngõ xóm quê chứa đựng trong mình biết bao câu chuyện. Tiếc là những năm kéo dây điện về làng, quy hoạch bừa bãi nên nhiều làng tre trúc, cây vườn bị đốn phăng. Nhiều ngõ xóm trơ trụi không một bóng cây, chơ vơ con đường bê tông vô duyên trong mưa nắng. Những thế giới riêng rất mực làng quê cũng theo đó biến mất, biết tìm đâu bây giờ?
Ở Huế, cái khác nhau giữa ngõ quê và ngõ phố không nhiều, bởi ngõ nào cũng xanh ngắt bóng cây, mang vẻ yên bình, cũng từ trong sương sớm ngõ nhỏ sương đọng đầy trên lá cây mở lối ra phố phường. Thành Nội Huế, qua bao năm vẫn còn đó những ngõ chè tàu vuông vức, thẳng tắp như một tấc lòng thành, điểm xuyến những dây tơ hồng vàng gợi nhắc thời thơ ấu chơi trò cô dâu chú rễ. Mỗi ngõ nhỏ ấy, mang một tâm sự riêng tư rất Huế. Ở đó có ngõ nhà ai thoảng hương cây hồng bạch, sân nhà ai mướt xanh nhành thiên tuế, hoa bưởi nhà ai rụng đây hiên tây với tiếng chim sâu chuyền cành hay tiếng chim chúp mào kêu buồng chuối tiêu chín lựng, và bất ngờ hơn, góc nhà ai cuối ngõ có đoá quỳnh nở ngát hương trong đêm sâu thẳm. Ở đó, có tà áo ai tha thướt đi về, dè dặt đi về “có lối nhỏ vương cây xấu hổ, em sợ nó khép cánh”; có ai đưa ai về mỗi ngày, mỗi khuya; có ai với ai đứng lại bên bờ dậu tần ngần mà tay thẹn thùng bứt từng chiếc lá...Huế có những ngõ xóm ven sông, hun hút dẫn ta đi vào lối hẹp rồi bỗng dưng vỡ oà ra một mảng sông Hương xanh ngắt. Cũng có những ngõ nhà dẫn ta đến một không gian tri thức tuyệt vời như ngõ nhà ông Hồ Tấn Phan, đi hết con đường đầy tre trúc, bất ngờ gặp một thế giới cổ xưa của mười ngàn cổ vật vớt lên từ đáy sông Hương nằm rải khắp trong vườn, kể lại cho ta muôn ngàn câu chuyện cổ...
Kim Long hoa trái, những ngõ nhỏ thường dẫn ra con đường phía sông Hương, khiến nhớ nao lòng câu thơ của Thiệp Đáng: “Những ngõ phố gió thổi và tôi hằng rung lên những tần số miên man đón em. Những ngõ phố hạnh phúc. Những ngõ phố đau buồn...”. Phú Mộng là xóm đẹp nhất với những ngõ xanh dẫn đến những ngôi nhà vườn đậm đà bản sắc Huế xưa. Và vườn An Hiên danh tiếng cũng có một ngõ vào hết sức đặc trưng bởi hai hàng bạch mai nở trắng mỗi độ xuân về. Bây giờ nhiều khi lên đứng dưới gốc mai trắng xoá, tôi thấy mình như ngọn gió cô độc, rung cây mãi mà vẫn trắng xoá cô đơn. Năm nào đó, hình như tôi đã trồng ở đây một cây ưu tình, cây đã ra hoa lẫn vào màu xanh ngõ vắng, và đã dẫn tôi đến một miền trắng xoá như một giấc mơ đổ vỡ bên trời.
Huế còn có những ngõ chùa vắng lặng, ngoài những ngõ chè tàu truyền thống, còn có nhiều ngõ đặc trưng khác như ngõ vào Huyền Không đầy tre trúc, ngõ vào Tịnh Thất Hoàng Mai là đôi hàng mai cổ thụ...Tiếng chuông, tiếng mõ lúc ban trưa âm ba dẫn ta đến cõi màu thiền vàng tịnh độ. Âm thanh ấy lúc hoàng hôn tím Huế, lại như nhuốm cả màu nhớ lên trên mấy nẻo đi về...
Đêm sâu và khuya, những ngõ Huế im lìm, và như để cho khách giang hồ còn một chỗ dừng chân cho trọn vẹn cuộc tang bồng, Huế có một Ngõ Vắng Xôn Xao nằm ngay trước chợ Đông Ba, kiệt Ngân Hàng dẫn ra bờ hồ Trần Hưng Đạo. Ngõ thức suốt đêm cùng sương khói Huế. Nhiều tao nhân mặc khách đã dừng bước chân khuya tại quán này ăn một bát cháo sương, để uống thêm chén rượu ân tình hàng bao năm qua, để còn nghêu ngao “đêm thấy ta là thác đổ”, để còn “ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ chân giang hồ”. Mấy năm lại đây, bước chân vô định của những con người “vô trú”, còn có một địa chỉ khác, ngõ Trần Huy Liệu, ngay sát chân bờ hồ, nhìn sang bên kia Hộ Thành Hào là dãy tường Kinh Thành Huế. Ngõ này là nơi đãi bạn văn chương của Huế, không phân biệt sang hèn, chức phận, nơi đây chỉ có một cõi đến và đi: rượu Cỏ Cú và những cơn say dài như mưa, hun hút sâu như ân tình ngõ Huế, và cao rộng như cái đẹp bên trời...
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC.