Thứ Năm, 30 tháng 9, 2010

Gió trên đinh Bach Mã

     Với tôi, ấn tượng đầu tiên về Bạch Mã không phải là gió mà là mây. Bạch Mã là một núi mây. Nhiều lần lên Bạch Mã, tôi chỉ tâm niệm một điều là được nhìn thấy mây từ Vọng Hải Đài, rồi thôi. Mây Bạch Mã là một thứ mây con gái, thường xuất hiện trong những khoảnh khắc nơi thung lũng, rồi tan biến như một nàng tiên vừa giáng thế. Điều đó cũng dễ hiểu thôi bởi nàng mây Bạch Mã thuộc về xứ Huế, không như nàng mây Tam Đảo, cứ thản nhiên xồng xộc cả vào phòng khách lạ chọc ghẹo chơi rồi bỏ đi không nói thưa gì. Trong nhiều năm qua từ khi biết Bạch Mã, tôi như chàng trai thầm yêu trộm nhớ, luôn khấp khởi đợi chờ được nhìn thấy mặt người yêu, trong một tư thế lén lút. Và như thể đáp lại tấm thịnh tình của một kẻ dại khờ, nhút nhát, nàng thường hiện lên trong những phút giây cơ hồ như tôi đã bắt đầu tuyệt vọng, làm cho tôi vui sướng mừng rỡ vô cùng. Có khi tôi thấy nàng trong vũ điệu ba-lê tha thướt như tên gọi của nàng. Có khi tôi run rẩy thấy nàng đang tắm từ ngoài khơi xa rồi kéo về phơi mình trên những rặng cây, nền nã và sạch sẽ. Lâu dần quen đi, tôi không còn rụt rè trước nàng và cảm nhận rằng nàng thật dễ gần và vui tính. Cũng có khi nàng như trêu đùa tôi, biến thành một mụ phù thuỷ già đen đúa, bẩn thỉu và kháu ó. Mặc nàng đùa, tôi vẫn cứ vừa nhấp rượu vừa ngắm nàng. Cho đến một hôm, tôi thấy nàng trong một vóc dáng Bạch Tuyết mặc chiếc áo váy trắng xoá đi từ Ngũ Hồ lên, giấu mặt trong một tán cây rừng, e ấp như một cô dâu. Hôm đó tôi không kìm lòng được nữa trong một cơn say ngất trời, tôi đã nói với nàng rằng tôi yêu nàng, dù không biết nàng có nhận lời hay không...
    Sau lần tỏ tình thật kỳ lạ trên đỉnh Bạch Mã ấy, nàng vẫn thường hiện ra trước mắt tôi với muôn vàn hình hài đẹp đẽ kỳ lạ. Nhưng có những lần, tôi hoài công ngồi chờ song nàng đi đâu vắng, lỗi hẹn. Và trong nỗi buồn trống vắng ấy, tôi nhận ra trên đỉnh Bạch Mã còn có gió. Gió như một triết gia đi lang thang thủ thỉ câu chuyện nhân tình. Có hôm gió kể cho tôi nghe câu chuyện nồng nàn, mặn mòi biển cả. Có hôm câu chuyện lạnh giá như một đồng bạc rơi vô cảm trong tim người. Có hôm câu chuyện buồn như không thể buồn hơn nữa. Song gió cũng có những câu chuyện vui, thật vui...Và cùng với gió, tôi kể cho gió những câu chuyện của mình, rằng tôi cũng có những kỷ niệm quá vãng vui và buồn, dẫu biết rằng câu chuyện rồi cũng “để gió cuốn đi”. Hôm nay, tôi kể cho gió nghe một chuyện bâng quơ nhưng với tôi là đáng nhớ.
    Vào những ngày đã cũ, có lần tôi cùng anh em công tác xã hội đóng trại ở Bạch Mã, cùng tham gia có mấy sinh viên người Pháp. Những sinh viên ấy đã ky cóp dành dụm, kể cả đi làm thuê nữa, để có tiền sang Huế trợ giúp cho trẻ em đường phố một số công trình. Đáp lại tấm thịnh tình ấy, anh em công tác xã hội ở Huế mời họ cùng leo núi Bạch Mã. Một ngày rong ruổi trong rừng thật vui. Đến cuối ngày, lúc đang ở trên đỉnh Vọng Hải Đài, bỗng nhiên gió giật ầm ào, tôi nhận ra đây là một cơn lốc rừng. Rất nhanh chóng, mọi người thoát xuống núi. Gió mạnh đến mức nhiều khi cứ ngỡ là thân hình gầy guộc của tôi ngày ấy sẽ bị thổi bay mất xuống vực bởi con đường thưở đó chưa tốt như bây giờ. May thay, có khá nhiều lau che suốt dọc đường về. Loài cỏ nở hoa thật lạ, đang thanh xuân đã vội bạc đầu. Ấy vậy mà cỏ đã chở che, an ủi không biết bao nhiêu con người bé nhỏ như tôi. Cùng đi với tôi hôm ấy có Thể, nhân viên kiểm lâm  của Vườn quốc gia Bạch Mã và Elisa. Elisa níu tay tôi cùng xuống một khe vực nhỏ. Gió quấn cả mái tóc dài của Elisa lên mắt mũi tôi như thể là một loài mây lạ, không dễ gì quên được. Đang lâng lâng vì cảm giác kỳ lạ ấy, Elisa bỗng nhiên kéo tay tôi đứng lại, chỉ vào trong lùm cây ven đường. Tôi nhìn theo hướng tay nàng chỉ, nhận ra dưới gốc lau có một tổ chim sơn ca đất có hai con chim non nhỏ xíu đang run bắn vì lạnh. Tôi ra hiệu là nên dùng khăn để quấn cho chúng nó đỡ lạnh. Elisa làm theo tôi, lấy chiếc khăn nàng đang dùng thoang thoảng mùi nước hoa thơm nhẹ nhàng quấn đôi chim non. Bất giác, tôi thấy Thể mỉm cười. Lúc đó tôi đoan chắc là anh hài lòng với những người yêu thiên nhiên như hai đứa chúng tôi. Đôi chim non có vẻ bình yên khi nằm trong vòng khăn ấm áp của Elisa. Chúng tôi nhìn nhau cười và tiếp tục xuống núi, là tốp về sau cùng của đòan.
    Khi chiếc bạt cuối cùng vừa căng lên, trời vừa kịp tối và mưa rừng đổ xuống ào ạt. Hú vía. Lâu lắm, tôi mới lại gặp cơn mưa rừng lớn như vậy. Phải mất hơn tiếng đồng hồ sau, chúng tôi mới dùng xong bữa tối vì mọi thứ cứ rối tinh lên. Tôi ngồi nhìn sang bên lều của Elisa, nàng hiện ra qua màn mưa và dưới ánh đèn pin hắt sáng trên tấm bạt mơ hồ như một cây nấm di động. Bỗng nhiên tôi thấy ớn lạnh và nhận ra mình đã sai lầm lúc chiều, khi gợi ý cho Elisa quàng khăn cho lũ chim non. Mưa sẽ làm khăn ướt và chim sẽ bị lạnh, con chim mẹ không tài nào tháo chiếc khăn ấy ra được. Tôi đứng dậy tìm áo mưa, cầm đèn pin bước ra. Cũng gần như cùng lúc, Elisa bước ra ngoài, đi nhanh đến chỗ tôi. Tôi lõm bõm vài câu tiếng Anh với nàng rằng tôi sẽ đến chỗ tổ chim sơn ca. Nàng gật đầu ra hiệu hiểu những gì tôi nói và chúng tôi cùng đi. Khi ánh đèn rọi vào tổ, chúng tôi ngạc nhiên vì không thấy chiếc khăn đâu nữa cả, thay vào đó là một con chim sơn ca mẹ đang ấp đôi chim con nằm ngủ, mắt ngơ ngác trước ánh đèn. Cả hai chúng tôi đều thầm nghĩ, có lẽ gió đã cuốn chiếc khăn đi đâu đó rồi. Chúng tôi cầm tay nhau, cảm nhận sự bình yên đang diễn ra và trở về nơi đóng trại. Mưa đã tạnh tự lúc nào, và gió cũng đã lặng đi.
    Nhưng hơi lạnh từ núi đá càng về khuya càng tỏa ra buốt giá. Đống lửa  giữa rừng chỉ có mỗi mình đội trưởng Phùng ngồi, với cây đàn ghi ta, nghêu ngao hát. Hát một mình mãi cũng chán, Phùng đi tìm tôi lúc ấy đang rúc trong chăn, không ngủ nhưng cũng muốn nằm cho đỡ mệt. Tiếng của Phùng réo ngay bên tai:” Dậy! Dậy! Ai lại lên Bạch Mã để ngủ ?”. Tôi biết không thể nằm biếng được. Cũng thấy rằng không nên thờ ơ với thiên nhiên hoang dã một cách tuyệt vời như thế này, tôi nhập cuộc bên đống lửa. Phùng và tôi uống rượu và hát, cái lạnh lùi dần. Và không biết tự khi nào, các nàng tiên đã rủ bỏ tấm chăn của mình để ra quây quần quanh lửa, cả Elisa. Chúng tôi bày cho các bạn thanh niên Pháp hát đồng dao và cả nhạc Trịnh Công Sơn nữa, rằng:” Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi!”...Tôi nhờ một sinh viên khoa tiếng Pháp nói với Elisa rằng, chiếc khăn của nàng cũng là một tấm lòng, và nó đã bị gió cuốn đi, như lời bài hát. Elisa nhìn tôi cười, gật gật đầu, hát ngọng líu:” De gio cuon di”...Cứ thế, chúng tôi ngồi bên nhau cho đến sáng.
    Nhưng chiếc khăn của Elisa không hề bị gió cuốn đi. Nó nằm lại trong bàn tay của chàng kiểm lâm tên Thể. Buổi sáng, Thể đưa tôi lại chiếc khăn và nói rằng, Thể không muốn làm Elisa buồn nên đã để nàng tự do quấn khăn cho chim. Khi đưa cả hai chúng tôi về cho kịp đoàn, anh quay ngay trở lại để lấy chiếc khăn ra, trả cho chúng về với thiên nhiên thật sự, bởi vì mẹ của chúng sẽ về kịp. Tôi nhận lại chiếc khăn, kể cho Thể nghe chuyện hồi đêm dẫn Elisa đi tháo chiếc khăn cho chim. Thể cười hiền và chào tôi. Tôi tìm Elisa bên suối đưa trả chiếc khăn cho nàng. Nàng rất ngạc nhiên khi biết được câu chuyện. “ Thể đâu rồi?”. Nàng hỏi và rủ tôi đi tìm. Nhưng Thể đã đi rồi, hôm nay dẫn đòan đi là một nhân viên kiểm lâm  khác.
    -“ The cung la gio...”. Elisa nói rằng, Thể cũng là ngọn gió như trong nhạc Trịnh. Tôi mường tượng lại ngày hôm qua, lúc Thể quay lại tổ chim để lấy chiếc khăn, gió thổi rất mạnh. Gió đã xô cả Elisa ngả vào tôi khi chúng tôi chỉ còn một trăm mét nữa là về đến nơi đóng trại. Vâng, chính trong cơn lốc mịt mù ấy, núi Bạch Mã đã có một thứ gió khác, xa lạ vô cùng với bao nỗi toan lo đời thực, thứ gió ấy trong mỗi người chúng ta ai cũng có, miễn là có cơ hội để thoát thai ra, ngọn gió cuả nồng ấm tình yêu thiên nhiên và cả con người...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét